Luật Du lịch số 09/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 19/06/2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018.Luật cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch được tự nguyện đăng ký xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Khách sạn, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, tàu thủy lưu trú du lịch được xếp hạng theo tiêu chuẩn quốc gia về xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch. Hạng cơ sở bao gồm: 01 sao, 02 sao, 03 sao, 04 sao và 05 sao. Tổng cục Du lịch có thẩm quyền thẩm định, công nhận cơ sở lưu trú du lịch hạng 04 và 05 sao; Cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh thẩm định, công nhận cơ sở lưu trú du lịch các hạng sao còn lại. Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch chỉ được sử dụng từ “sao” hoặc hình ảnh ngôi sao để quảng cáo về hạng cơ sở lưu trú du lịch sau khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch. Khi đã được công nhận hạng, tổ chức, cá nhân phải treo biển công nhận hạng và quảng cáo đúng với loại, hạng đã được công nhận; Duy trì chất lượng của cơ sở lưu trú du lịch theo đúng loại, hạng đã được công nhận. Về hướng dẫn viên du lịch, Luật quy định hướng dẫn viên du lịch chỉ được hành nghề khi có thẻ hướng dẫn viên du lịch; Có hợp đồng lao động với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành; Có hợp đồng hướng dẫn với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành hoặc văn bản phân công hướng dẫn theo chương trình du lịch. Trong đó, thẻ hướng dẫn viên có thời hạn 05 năm.Luật này thay thế Luật Du lịch số 44/2005/QH11.
Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14, được Quốc hội thông qua ngày 19/06/2017, có hiệu lực từ ngày 01/07/2018 và thay thế cho Pháp lệnh về khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi số 32/2001/PL-UBTVQH10.
Theo quy định của Luật này, phí thủy lợi sẽ chuyển sang cơ chế giá; Nhà nước sẽ định giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi. Giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi bao gồm chi phí quản lý, vận hành, bảo trì, chi phí khấu hao, chi phí thực tế hợp lý khác và lợi nhuận phù hợp với mặt bằng thị trường. Trong từng thời kỳ, căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi phí khấu hao đối với công trình thủy lợi sử dụng vốn Nhà nước. Khi có các yếu tố hình thành giá thay đổi, giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi phải được kịp thời điều chỉnh. Việc định giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi căn cứ vào giá thành, chất lượng sản phẩm dịch vụ thủy lợi; mức lợi nhuận; lộ trình điều chỉnh giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; Khả năng thanh toán của người sử dụng sản phẩm. dịch vụ thủy lợi; Khả năng cung cấp sản phẩm, dịch vụ thủy lợi; Khả năng cung cấp sản phẩm, dịch vụ thủy lợi; Đặc điểm, lợi công trình thủy lợi…
Luật cũng chỉ rõ, Nhà nước có chính sách ưu đãi thuế với tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác công trình thủy lợi cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi theo quy định của pháp luật về thuế; Hỗ trợ tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng mới, sửa chữa, nâng cấp hệ thống thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng, hệ thống tưới tiên tiến, tiết kiệm nước, hệ thống tưới tiêu tiên tiến và hiện đại, hệ thống xử lý nước thải để tái sử dụng; Hỗ trợ đầu tư nâng cấp, hiện đại hóa công trình thủy lợi.
Đối với chủ thể sử dụng sản phẩm, dịch vụ thủy lợi, Nhà nước hỗ trợ tiền sử dụng phù hợp với từng lĩnh vực, nhóm đối tượng sử dụng. Cụ thể, trong từng thời kỳ, căn cứ khả năng ngân sách Nhà nước, Nhà nước hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi không phân biệt nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình thủy lợi. Tiền hỗ trợ sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi được ngân sách Nhà nước bảo đảm.
Luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 đã được Quốc hội thông qua ngày 19/06/2017, có hiệu lực từ ngày 01/07/2018; thay thế Luật Chuyển giao công nghệ số 80/2006/QH11; với nhiều hỗ trợ, khuyến khích đối với doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ.
Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp có dự án thuộc địa bàn, lĩnh vực ưu đãi đầu tư thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ với tổ chức khoa học và công nghệ. Doanh nghiệp được sử dụng quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp để đầu tư, đối ứng vốn, nhận vốn đối ứng đầu tư cho đổi mới công nghệ, ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của mình và thực hiện nội dung chi khác theo quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ.
Quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền khác phát sinh từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đối tượng sở hữu trí tuệ có thể xác định được giá trị là quyền tài sản mà doanh nghiệp có thể dùng để bảo đảm cho giao dịch vay vốn đầu tư cho các dự án khoa học và công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, phát triển sản xuất, kinh doanh từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, tổ chức tín dụng.
Đồng thời, doanh nghiệp đầu tư cho cơ sở vật chất - kỹ thuật hoạt động giải mã công nghệ, tổ chức, cá nhân thực hiện việc giải mã công nghệ được hưởng các ưu đãi về hỗ trợ vốn, bảo lãnh vay vốn, hỗ trợ lãi suất vay vốn từ Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, tổ chức tín dụng; Các hỗ trợ, ưu đãi khác theo quy định pháp luật.
Luật cũng quy định cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổ chức, cá nhân đầu tư và hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ có thu nhập từ hoạt động cung ứng dịch vụ chuyển giao công nghệ;… được hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật về thuế......